User Tools

Site Tools


3439-s-ng-m-y-h-ng-n-ng-kpv-la-gi

KPV
14,5-мм счетверенная зенитная пулеметная установка конструкции Лещинского ЗПУ-4 (4).jpg
Bốn khẩu KPV ghép thành hệ thống phòng không ZPU-4.
Loại Súng máy hạng nặng
Quốc gia chế tạo  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ 1949-nay
Lược sử chế tạo
Năm thiết kế 1944
Thông số
Khối lượng 49 kg (108,03 lb)
Chiều dài 1.980 mm (78,0 in)
Độ dài nòng 1.346 mm (53,0 in)
Chiều rộng 162mm
Chiều cao 225mm

Đạn 14,5 × 114 mm
Cỡ đạn 14,5 mm
Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng độ giật lùi nòng ngắn
Tốc độ bắn 600 viên/phút
Vận tốc mũi 1005 m/s
Tầm bắn hiệu quả 3000m
Tầm bắn xa nhất 4000m
Chế độ nạp băng đạn 40 viên
Ngắm bắn Điểm ruồi hoặc ống nhắm

Súng máy hạng nặng KPV, còn gọi là súng máy phòng không KPV (KPV là viết tắt của Krupnokaliberniy Pulemyot Vladimirova, tiếng Nga: Крупнокалиберный Пулемёт Владимирова, КПВ) là súng máy dùng đạn cỡ 14,5x114mm với cơ chế nạp đạn bằng độ giật lùi nòng ngắn do Liên Xô thiết kế và chế tạo. Ban đầu, súng được trang bị cho bộ binh, nhưng vì nặng và cồng kềnh nên bị loại bỏ. Sau đó, nó được chuyển sang dùng làm súng phòng không và hay được gắn trên các xe thiết giáp, tàu chiến nhỏ. Phiên bản dùng cho xe thiết giáp gọi là KPVT.

KPV được đưa vào sử dụng từ năm 1949 tới nay.

Năm 1944, S. V. Vladimirov bắt đàu phát triển một loại súng máy 14,5 ly dựa trên các kiểu mẫu năm 1943.[1] 20 мм авиапушки В-20, проигравшей конкурс Б-20[2]. Thử nghiệm tại nhà máy bắt đầu từ tháng 11 [3]. KPV vượt qua các kỳ kiểm tra của quân đội trong năm 1944 và bắt đầu sản xuất số lượng nhỏ tại nhà máy Degtyarev[4]. Tuy nhiên những khó khăn của kiểu súng máy thống nhất đã khiến việc đưa nó vào phục vụ trong quân ngũ bị trì hoãn và quá trình sản xuất đại trà chỉ bắt đầu vào tháng 5 năm 1948[2].

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Nhân dân Việt Nam vốn giàu kinh nghiệm chiến tranh du kích nên rất coi trọng nhiệm vụ tăng cường khả năng phòng không cho các phân đội nhỏ hoạt động độc lập, cách xa các lực lượng chủ lực.

Vào giữa những năm 1960, phía Việt Nam đã đề nghị Liên Xô cung cấp các tổ hợp súng máy phòng không có thể đối phó hiệu quả với Không quân Mỹ trong điều kiện chiến tranh du kích trong rừng rậm nhiệt đới và thuận tiện cho vận chuyển, mang vác bằng sức người. Để đáp ứng, năm 1967, Liên Xô đã triển khai sản xuất hàng loạt tổ hợp phòng không 14,5 ly ZPU-1 đã được thử nghiệm thành công từ năm 1956. Với trọng lượng tác chiến 220 kg, tổ hợp có thể tháo thành các bộ phận, bộ phận nặng nhất cũng chỉ dưới 40 kg. Ngoài ra, Việt Nam cũng nhận từ Trung Quốc vài trăm súng máy phòng không 14,5 ly kiểu 4 nòng Type-56 (copy từ mẫu ZPU-4 của Liên Xô) hoặc kiểu 2 nòng Type-58 (copy từ ZPU-2).

ZPU-1 cũng có thể được vận chuyển trên thùng xe tải. Kinh nghiệm tác chiến ZPU-1 cho thấy nó còn cỏ thể bắn ngay trong hành tiến. Tuy có tầm bắn ngắn, nhưng với ưu điểm là gọn nhẹ, dễ mang vác, bộ đội Việt Nam thường sử dụng tổ hợp súng máy phòng không này để đi kèm bảo vệ các đoàn xe vận tải và đoàn xe quân sự và bảo vệ cho các địa điểm tập kết bộ đội, hoặc bố trí phục kích các đơn vị trực thăng của đối phương. Trong chiến tranh, hàng trăm máy bay các loại của Mỹ đã bị bắn hạ bởi loại súng máy phòng không này.

3439-s-ng-m-y-h-ng-n-ng-kpv-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:12 (external edit)