User Tools

Site Tools


2351-c-b-l-lem-la-gi

Differences

This shows you the differences between two versions of the page.

Link to this comparison view

2351-c-b-l-lem-la-gi [2018/11/07 17:11] (current)
Line 1: Line 1:
 +<​HTML><​br><​div><​p><​i><​b>​Lọ Lem</​b></​i>​ hay <​i><​b>​Đôi hài thuỷ tinh</​b></​i>​ (tiếng Anh: <​i>​Cinderella</​i>,​ tiếng Pháp: <​i>​Cendrillon,​ ou La petite Pantoufle de Verre</​i>,​ tiếng Ý: <​i>​Cenerentola</​i>,​ tiếng Đức: <​i>​Aschenputtel</​i>​) là một câu chuyện dân gian thể hiện câu chuyện về sự áp bức bất công / phần thưởng chiến thắng. Hàng ngàn phiên bản biến thể của câu chuyện này đã được biết đến trên toàn thế giới.<​sup id="​cite_ref-1"​ class="​reference">​[1]</​sup>​ Nhân vật chính là một cô gái trẻ sống trong hoàn cảnh không may đã được hoàng tử cưới làm vợ. Câu chuyện lần đầu tiên được xuất bản bởi Charles Perrault trong <​i>​Histoires ou contes du temps passé</​i>​ năm 1697<sup id="​cite_ref-2"​ class="​reference">​[2]</​sup>​. Câu chuyện đã được Walt Disney Pictures chuyển thể thành phim hoạt hình phim cô bé Lọ Lem.
 +</p>
  
 +
 +<​h2><​span id="​C.C3.A1c_phi.C3.AAn_b.E1.BA.A3n_s.E1.BB.9Bm_nh.E1.BA.A5t_v.C3.A0_s.E1.BB.B1_kh.C3.A1c_nhau_gi.E1.BB.AFa_c.C3.A1c_phi.C3.AAn_b.E1.BA.A3n_.E1.BB.9F_t.E1.BB.ABng_qu.E1.BB.91c_gia"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Các_phiên_bản_sớm_nhất_và_sự_khác_nhau_giữa_các_phiên_bản_ở_từng_quốc_gia">​Các phiên bản sớm nhất và sự khác nhau giữa các phiên bản ở từng quốc gia</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h2>​
 +<​p>​Các khía cạnh của câu chuyện <​i>​Cô bé Lọ Lem</​i>​ có lẽ có nguồn gốc từ cổ tích xa xưa. Nhà sử học Hy Lạp cổ đại Strabo (<​i>​Geographica</​i>​ Sách 17, 1.33) ghi nhận lại trong danh sách là vào thời Hy Lạp-La Mã đã có truyện về một cô gái là Rhodopis, "cằm hồng",​ từng sống trong thời Thuộc địa Hy Lạp của Naucratis ở Ai cập cổ đại. Và đây được cho là phiên bản cổ xưa nhất từng biết đến của câu chuyện:
 +</p>
 +<table class="​cquote"​ role="​presentation"​ style="​margin:​auto;​ border-collapse:​ collapse; border: none; background-color:​ transparent;​ width: auto;"><​tbody><​tr><​td style="​width:​ 20px; vertical-align:​ top; border: none; color: #B2B7F2; font-size: 40px; font-family:​ 'Times New Roman',​ Times, serif; font-weight:​ bold; line-height:​ .6em; text-align: left; padding: 10px 10px;">​“
 +</td>
 +<td style="​vertical-align:​ top; border: none; padding: 4px 10px;">​Họ kể với tôi một câu chuyện tuyệt vời, rằng khi cô ấy đang tắm, một con đại bàng lấy cắp một chiếc dép của cô ta và đưa nó tới Memphis (Ai Cập). Khi nhà vua đang hít thở không khí trong lành, con đại bàng vừa nãy thả chiếc dép xuống khi đang bay trên đầu nhà vua. Đức Vua đã rất say mê vẻ đẹp của chiếc dép và ngay lập tức, một cách kỳ lạ, Đức Vua đã sai người đi tìm chủ nhân của chiếc dép. Khi cô gái chủ nhân chiếc dép được tìm thấy ở Naucratis, cô ấy đã được đưa đến Memphis và trở thành vợ vua...<​sup id="​cite_ref-3"​ class="​reference">​[3]</​sup><​sup id="​cite_ref-4"​ class="​reference">​[4]</​sup></​td>​
 +<td style="​width:​ 20px; vertical-align:​ bottom; border: none; color: #B2B7F2; font-size: 40px; font-family:​ 'Times New Roman',​ Times, serif; font-weight:​ bold; line-height:​ .6em; text-align: right; padding: 10px 10px;">​”
 +</​td></​tr></​tbody></​table><​p>​Herodotus,​ sống 5 thế kỷ trước Strabo, cho biết một thông tin nhiều hơn về Rhodopis trong lịch sử, nó viết rằng câu chuyện là về một cô gái tên Rhodopis đến từ thành phố Thrace, và là nô lệ của Iadmon và Samos, và bạn của Aesop. Cô được đưa vào Ai Cập trong thời gian trị vì của Pharaoh Amasis, và được trả tự do bằng một khoản tiền lớn bởi Charaxus của Mytilene, anh trai của Sappho, một nhà thơ trữ tình.<​sup id="​cite_ref-5"​ class="​reference">​[5]</​sup><​sup id="​cite_ref-6"​ class="​reference">​[6]</​sup></​p><​p>​Câu chuyện sau đó lại xuất hiện với Aelian (khoảng 175-ca. 235),<​sup id="​cite_ref-7"​ class="​reference">​[7]</​sup>​ cho thấy rằng chủ đề Cô bé Lọ Lem đã được phổ biến trong suốt thời cổ đại.
 +</​p><​p>​Một phiên bản khác của câu chuyện là về Ye Tây An, xuất hiện trong mẩu chuyện khác từ Youyang bởi Duẩn Chengshi tầm năm 860. Ở đây, cô gái chăm chỉ và đáng yêu làm bạn với một con cá là hóa thân của mẹ cô, người đã bị giết bởi người mẹ kế và em gái của cô. Ye Xian tiết kiệm xương cá và nhờ ma thuật, nó đã giúp cô có quần áo đẹp cho lễ hội năm mới. Khi cô mất dép của mình sau khi được công nhận bởi gia đình hỗn cô, nhà vua thấy dép của cô gái và rơi vào tình yêu với cô ấy (cuối cùng cứu cô từ người mẹ kế độc ác của mình).
 +</​p><​p>​Một phiên bản khác của câu chuyện, đó là tương tự như phiên bản Trung Quốc, tồn tại ở Philippines. Những câu chuyện được gọi là "​Mariang Alimango"​ (Mary). Người bệnh được điều trị bằng Maria giành được trái tim của hoàng tử trong lễ kỷ niệm sắp tới tuổi truởng thành của mình, và vượt qua sự tàn ác của người mẹ kế và người em kế độc ác. Trong phiên bản này, linh hồn của người mẹ quá cố của cô tái sanh trong hình hài một con cua, do đó danh hiệu, và phục vụ như cô "bà tiên đỡ đầu"​. Việc thử giày cũng xuất hiện, và nó có một sự tương đồng rất lớn với những câu chuyện Cô bé Lọ Lem của các nước Trung Đông.
 +</​p><​p>​Trong phiên bản tiếng Việt Tấm Cám, Tấm bị ngược đãi bởi cả người mẹ kế và em gái kế. Một lần mẹ kế sai 2 chị em đi bắt cá và hứa rằng ai bắt được nhiều cá hơn sẽ được tặng một dải yếm đào, đứa em đã lén lấy hết cá của Tấm. Con cá duy nhất còn lại với cô ấy cũng đã bị giết chết và ăn thịt, nhưng xương của nó là người bảo vệ và người giám hộ cho Tấm, cuối cùng giúp cô trở thành là cô dâu của nhà vua trong một lễ hội. Tuy nhiên, nhân vật chính biến thành nhân vật phản diện trong phần hai của câu chuyện, bằng cách đun sôi em gái mình còn sống và sau đó lừa người mẹ kế của mình, cho bà ta ăn thịt con gái riêng của mình.
 +</​p><​p>​Có một phiên bản Hàn Quốc cũng vậy, có tên là "​Kongjwi và Patjwi (콩쥐 팥쥐)"​. Nó là một câu chuyện về cô gái Kongjwi người đã liên tục bị ức hiếp bởi người mẹ kế và chị gái Patjwi. Gia đình bắt Kongjwi ở nhà trong khi họ tham dự lễ hội của nhà vua, nhưng đã có một nàng tiên (giống như trong phiên bản Lọ Lem của Perrault) và cho cô một trang phục đẹp hơn mọi người. Các motif là như nhau, liên quan đến một vị vua cũng rơi vào tình yêu với cô ấy. Nhưng một số chi tiết nhỏ đã thay đổi bởi vì câu chuyện hư cấu này đang diễn ra tại Hàn Quốc. Bao gồm các chi tiết của dép và các lễ hội thông thường xảy ra trong các câu chuyện Cô bé Lọ Lem.
 +</​p><​p>​Một số biến thể khác nhau của câu chuyện xuất hiện trong thời trung cổ Nghìn lẻ một đêm, còn được gọi là Đêm Ả Rập, trong đó có "The Second Câu chuyện Shaykh của",​ "Câu chuyện The Lady Eldest"​ và "​Abdallah ibn Fadil và anh em của ông", tất cả liên quan với chủ đề của một người em gái bị ức hiếp bởi hai người ghen tức với cô. Trong một số trong số này, các anh chị em là phụ nữ, trong khi ở những người khác, họ là nam giới. Một trong những câu chuyện, "Judar và Hỡi các anh em của ông", khởi hành từ kết thúc có hậu của phiên bản trước đó và làm lại các âm mưu để cho nó một kết thúc bi thảm thay vào đó, với những em trai bị đầu độc bởi anh em trai của mình.<​sup id="​cite_ref-8"​ class="​reference">​[8]</​sup></​p><​p>​Các biến thể của Cô bé Lọ Lem có thể được bắt nguồn từ những câu chuyện của Cordelia trong Historia Regum Britanniae Monmouth của Gèoffroy. Cordelia là người trẻ nhất và đạo đức nhất trong ba cô con gái người Anh của vua Leir, tuy nhiên đức hạnh của cô không làm cho cô được cha mình yêu thương khi ông chia vương quốc cho 2 người chị lớn còn Cordelia không được gì. Cordelia kết hôn với tình yêu của mình, Aginippus, vua của người Frank, và chạy trốn đến Gaul nơi cô và chồng cô lập quân đội và hạ bệ 2 người chị độc ác- những người đã lợi dụng vị vua cha. Cordelia cuối cùng cũng đã đăng quang Nữ hoàng của người Anh. Tuy nhiên ngự trị của cô chỉ kéo dài năm năm. Câu chuyện được kể lại trong nổi tiếng của Shakespeare "Vua Lear", nhưng với một kết thúc bi thảm.
 +</p>
 +
 +<div class="​thumb tright"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​222px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​6/​6d/​DBP_1965_485_Wohlfahrt_Aschenputtel.jpg/​220px-DBP_1965_485_Wohlfahrt_Aschenputtel.jpg"​ width="​220"​ height="​189"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​6/​6d/​DBP_1965_485_Wohlfahrt_Aschenputtel.jpg/​330px-DBP_1965_485_Wohlfahrt_Aschenputtel.jpg 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​6/​6d/​DBP_1965_485_Wohlfahrt_Aschenputtel.jpg/​440px-DBP_1965_485_Wohlfahrt_Aschenputtel.jpg 2x" data-file-width="​840"​ data-file-height="​720"/> ​ <div class="​thumbcaption">​Aschenputtel tại ngôi mộ của mẹ</​div></​div></​div>​
 +<​h3><​span id="​Phi.C3.AAn_b.E1.BA.A3n_N.C3.A0ng_Cenerentola"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Phiên_bản_Nàng_Cenerentola">​Phiên bản Nàng Cenerentola</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<​p>​Ngày xửa ngày xưa, có một vị công tước chằng may goá vợ, ông có một người con gái tên là Zezolla (hình ảnh của Lọ Lem), do thiếu thốn tình cảm của mẹ, cô rất vui khi được sự quan tâm và yêu thương của cô giáo. Với sự giúp đỡ của Zezolla, cô thuyết phục cha mình cưới cô giáo. Đáng buồn thay, cô giáo có sáu người con gái, với tính tình hợm hĩnh của mình họ thường xuyên đối xử tệ bác với Zezolla, họ đuổi cô xuống bếp và bắt cô phải làm việc như một đứa đầy tớ. Vị công tước trong một lần đi đến hòn đảo Sardinia, ông đã gặp một bà tiên. Bà tặng cho ông một món quà cho cô con gái của ông. Món quà gồm có một cái thuổng bằng vàng, một cái xô vàng, một chiếc khăn lụa, một hạt giống. Cô lấy hạt giống đó và đem gieo trồng. Năm đó, nhà vua mở vũ hội, tất cả các cô gái trong vươn quốc đều được tham gia. Zezolla xuất hiện trong một bộ váy vô cùng lộng lẫy do cái cây thần mà cô chăm sóc tặng. Nhà vua đem lòng yêu cô ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng Zezolla đã bỏ chạy trước khi ngài kịp biết cô là ai. Tương tự, lần thứ hai Zezolla cũng chạy thoát khỏi nhà vua và người hầu của ngài. Ở lần thứ ba, người hầu của nhà vua tìm được một chiếc hài mà cô đánh rơi. Nhà vua mời tất cả các thiếu nữ trong vương quốc đến để thử hài, cuối cùng Zezolla cũng mang vừa chiếc hài mà nhà vua tìm được, ngài cưới Zezolla làm vợ.<​sup id="​cite_ref-9"​ class="​reference">​[9]</​sup></​p><​p>​Một trong những phiên bản nổi tiếng nhất về cô bé Lọ Lem được viết bởi Charles Perrault năm 1697. Câu chuyện của ông phổ biến do các tình tiết hấp dẫn mà ông thêm vào, bao gồm chiếc xe ngựa bí ngô, bà tiên đỡ đầu và đặc biệt là đôi hài thuỷ tinh.<​sup id="​cite_ref-10"​ class="​reference">​[10]</​sup></​p><​p>​Một phiên bản khác cũng được biết đến rộng rãi được ghi lại bởi anh em người Đức Jacob and Wilhelm Grimm vào thế kỷ 19. Câu chuyện mang tên <​i>"​Aschenputtel"</​i>​ (<​i>"​Cinderella"</​i>​ trong tiếng Anh) và sự giúp đỡ không phải đến từ bà tiên đỡ đầu mà là cây điều ước mọc ở trên mộ của mẹ cô.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​Phi.C3.AAn_b.E1.BA.A3n_N.C3.A0ng_Aschenputtel"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Phiên_bản_Nàng_Aschenputtel">​Phiên bản Nàng Aschenputtel</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<​p>​Ngày xửa ngày xưa, có một người đàn ông giàu có chẳng may vợ ông bệnh nặng. Nằm trên giường bệnh của mình, bà gọi cô con gái duy nhất của mình đến bên cạnh mình và dặn dò cô bé rằng hãy sống thật tốt bụng và trung thực, rồi trời phật sẽ bảo vệ cô. Nói xong mẹ cô bé qua đời và được đem đi chôn cất. Một năm trôi qua, người đàn ông góa vợ kết hôn với một phụ nữ khác, bà này có hai cô con gái riêng. Họ có gương mặt đẹp và làn da trắng, nhưng trái tim của họ lại tàn nhẫn và độc ác. Hai người chị em mới lấy hết quần áo và đồ trang sức đẹp của cô bé và bắt cô phải mặc quần áo rách rưới. Họ đuổi cô vào nhà bếp để làm các công việc tồi tệ nhất, và đặt cho cô biệt danh "​Aschenputtel"​ ("xỉ than"​). Mặc dù vậy, cô bé vẫn sống tốt với mọi người và khiêm nhường, thỉnh thoảng cô đi đến mộ mẹ mà khóc và cầu nguyện rằng ước gì mình có một cuộc sống hạnh phúc hơn.
 +</​p><​p>​Một ngày nọ, người đàn ông giàu có nọ đi đến một hội chợ, ông nói với các cô con gái của mình rằng sẽ tặng cho mỗi cô một món quà sang trọng. Người chị lớn muốn có trang phục đẹp, người chị kế thích ngọc trai và kim cương. Con gái ruột của ông chỉ yêu cầu ông tặng cô cành cây đầu tiên gõ vào chiếc mũ của ông trên đường đi. Người đàn ông đã đi đến hội chợ, và mua các món quà đắt giá cho các cô con gái của vợ. Khi đi qua một khu rừng, mũ của ông chạm vào một cành hạt dẻ, ông hái nó và đưa nó cho con gái của mình. Cô trồng cành cây trên mộ mẹ, tưới nước nó cùng với những giọt nước mắt của cô. Cành cây dần lớn lên thành một cây hạt dẻ. Cô bé đến bên cây và cầu nguyện hằng ngày, và mỗi lần như vậy một con chim trắng luôn luôn bay đến an ủi cô.
 +</​p><​p>​Tại vương quốc đó, nhà vua tổ chức lễ hội trong ba ngày ba đêm, và mời tất cả các thiếu nữ xinh đẹp trong đất nước tham dự để kén vợ cho hoàng tử. Gia đình họ được mới, hai chị em đều háo hức đi, Aschenputtel cũng muốn đi nhưng mẹ kế từ chối vì cô không có trang phục đẹp, cũng không có giày để mặc. Người mẹ kế đã ném một đĩa đậu lăng vào đống tro tàn và bắt cô phải lựa ra. May thay nhờ sự giúp đỡ của hai chú chim bồ câu trắng được gửi bởi mẹ cô từ thiên đường, cô đã nhặt xong trong vòng chưa đầy một giờ trắng được gửi bởi mẹ cô từ thiên đường. Mẹ kế thấy vậy rất bực tức, bà ném thật nhiều đậu lăng và bắt cô phải nhặt hết. Nhưng Aschenputtel vẫn hoàn thành công việc thậm chí còn nhanh hơn. Không muốn làm lỡ dịp may hiếm có của hai cô con riêng của mình, mẹ kế thúc dục hai người con và bỏ mặc Aschenputtel khóc một mình.
 +</​p><​p>​Cô gái chạy tới bên mộ mẹ mình và cầu nguyện. Chim trắng thả xuống bên cạnh cô một chiếc váy màu trắng và đôi giày lụa. Cô được phép đi tới vũ hội với lới dặn là cô phải rời khỏi cung điện trước nửa đêm. Hoàng tử nhảy với cô ấy, nhưng cô ấy lảng tránh anh ta trước khi nửa đêm xảy ra. Tối hôm sau, cô gái xuất hiện trong một chiếc áo choàng vĩ đại hơn nhiều bạc và bạc giày. Hoàng tử đem lòng yêu cô và nhảy với cô cả buổi tối, nhưng khi đêm đến, cô lại một lần nữa. Buổi tối thứ ba, cô xuất hiện trong trang phục kéo thành sợi vàng với dép đi trong vàng. Bây giờ hoàng tử đã được xác định để giữ cho mình, và có toàn bộ cầu thang dính đầy sân. Aschenputtel bị mất theo dõi thời gian, và khi cô chạy đi một trong những dép vàng của cô đã bị mắc kẹt trên sân đó. Hoàng tử tuyên bố rằng anh sẽ kết hôn với con gái mà chân sẽ phù hợp với dép vàng.
 +</​p><​p>​Sáng hôm sau, hoàng tử đến nhà Aschenputtel và thử dép trên các chị gái lớn tuổi nhất. Các chị em đã được tư vấn bởi mẹ cô để cắt đứt ngón chân của mình để phù hợp với dép. Khi đi với chị gái, hai chim bồ câu từ trời nói với Hoàng tử rằng máu nhỏ giọt từ chân của mình. Kinh hoàng trước sự phản bội của mình, ông trở lại một lần nữa và thử dép trên chị gái khác. Cô cắt bỏ một phần của gót chân của mình để có được chân của mình trong dép, và một lần nữa hoàng tử bị lừa gạt. Khi đi cùng cô ấy đến lâu đài của vua, chim bồ câu cảnh báo anh ta một lần nữa về máu trên chân cô. Ông đã trở lại để hỏi về một cô gái khác. Người đàn ông nói với ông rằng họ giữ một nhà bếp, người giúp việc trong nhà - bỏ qua đề cập đến là cô con gái của mình - và hoàng tử yêu cầu ông cho cô ấy thử trên dép. Các cô gái xuất hiện sau khi rửa chính mình, và khi cô đưa vào dép, hoàng tử nhận ra cô ấy là người lạ với người mà ông đã nhảy vào bóng.
 +</​p><​p>​Cuối cùng, trong đám cưới Aschenputtel,​ như cô đang đi bộ xuống các lối đi với chị em mới của mình như là phù dâu của mình, (họ đã hy vọng sâu cách của họ vào lợi của mình), chim bồ câu từ trời bay xuống và đánh mắt hai chị em mới ", một ở bên trái và một ở bên phải. Khi đám cưới đã kết thúc, và Aschenputtel và hoàng tử của mình bước ra khỏi nhà thờ, chim bồ câu bay một lần nữa, đập vào mắt còn lại của hai chị em xấu mù, một sự trừng phạt họ phải chịu đựng cho phần còn lại của cuộc sống của họ.
 +</​p><​p>​Mối quan hệ Aschenputtel với cha của mình trong phiên bản này là không rõ ràng; phiên bản của Perrault nói rằng người cha vắng mặt chủ yếu là người vợ thứ hai của mình, giải thích tại sao ông không ngăn chặn việc lạm dụng con gái mình. Tuy nhiên, người cha trong câu chuyện này đóng một vai trò tích cực trong một vài cảnh, và nó không phải là giải thích lý do tại sao anh chịu đựng sự ngược đãi của con mình. Ông cũng mô tả Aschenputtel như "con người vợ đầu tiên của" của mình và không phải của riêng của mình.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​Phi.C3.AAn_b.E1.BA.A3n_N.C3.A0ng_L.E1.BB.8D_Lem_c.E1.BB.A7a_Perrault"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Phiên_bản_Nàng_Lọ_Lem_của_Perrault">​Phiên bản Nàng Lọ Lem của Perrault</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<div class="​thumb tright"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​222px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​a/​a9/​Cinderella_-_Project_Gutenberg_etext_19993.jpg/​220px-Cinderella_-_Project_Gutenberg_etext_19993.jpg"​ width="​220"​ height="​313"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​a/​a9/​Cinderella_-_Project_Gutenberg_etext_19993.jpg/​330px-Cinderella_-_Project_Gutenberg_etext_19993.jpg 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​a/​a9/​Cinderella_-_Project_Gutenberg_etext_19993.jpg/​440px-Cinderella_-_Project_Gutenberg_etext_19993.jpg 2x" data-file-width="​612"​ data-file-height="​870"/> ​ </​div></​div>​
 +<​p>​Ngày xửa ngày xưa, có một người đàn ông chẳng may vợ mất sớm, ông tái hôn với một người phụ nữa hết sức kiêu căng và ngạo mạn. Bà ta có hai đứa con gái, và cả hai cũng đều kiêu kỳ và ích kỉ như mẹ của mình. Ông có một người con gái với người vợ trước, cô bé vừa đẹp người lại vừa đẹp nết, luôn đối xử tốt với tất cả mọi người. Bà mẹ kế và hai cô con gái của bà bắt cô bé phải hầu hạ và phục tùng họ như người ở, họ bắt cô làm việc cả ngày lẫn đêm, hết việc này tới việc khác, không lúc nào ngơi tay. Và khi đêm đến, cô phải ngủ trong một góc nhà cạnh lò sưởi. Vì lúc nào cũng ngủ gần lò sưởi và làm việc vất vả cô thường xuyên lấm lem, người dính đầy lọ, hai người chị kế lấy đó mà gọi cô bằng cái tên hết sức chế giễu "​Cinderella"​ (Lọ Lem). Lọ Lem nhẫn nại chịu đựng và không dám nói cho cha của mình biết kể từ khi bà mẹ kế kiểm soát hết mọi việc tỏng gia đình.
 +</​p><​p>​Một ngày nọ, hoàng tử mời tất cả các thiếu nữ trong vương quốc đến dự buổi vũ hội, với mục đính sẽ chọn ra được người vợ tương lai trong số các thiếu nữ tham dự. Hai cô chị kế vui vẻ sửa soạn váy áo đi dự vũ hội, họ cũng không quên chế giễu Lọ Lem rằng người hầu thì không được cho vào vũ hội đâu.
 +</​p><​p>​Nhìn hai người chị mình đi chơi hội, Lọ Lem khóc nức nở. Bỗng nhiên, từ đâu bà tiên đỡ đầu xuất hiện như có phép lạ, ngay lập tức, bà dùng phép thuật của mình biến Lọ Lem từ một cô hầu thành một thiếu nữ đẹp tuyệt trần như cô vốn có. Bà biến quả bí ngô thành một cỗ xe ngựa kéo mạ vàng, các chú chuột nhắt ở góc nhà thành bốn con tuấn mã, một con chuột thành người đánh xe, và chú thạch sùng thành người hầu. Tiếp đến, bà biến bộ quần áo rách rưới của Lọ Lem thành một bộ váy dạ hội lộng lẫy với trang sức lấp lánh, và cuối cùng bà cũng không quên tặng cô một đôi hài bằng thủy tinh. Bà tiên đỡ đầu nói rằng cô hãy tận hưởng buỗi vũ hội, và không quên dặn cô rằng phải trở về trước khi chuông đồng hồ đổ mười hai tiếng, khi đó mọi phép màu sẽ biến mất.
 +</​p><​p>​Tại buổi vũ hội, mọi người đều choáng ngợp với vẻ đẹp lộng lẫy của Lọ Lem và Hoàng tử. Và ở lần này, Lọ Lem đã nhớ và về trước khi nửa đêm đến. Khi về nhà, cô rất vui và cảm khích sự giúp đỡ của bà tiên đỡ đầu. Một lúc sau, hai người chị kế của Lọ Lem mới về, và họ không hề nhận ra cô chính là cô gái xinh đẹp mà họ thấy ở vũ hội.
 +</​p><​p>​Buổi vũ hội thứ hai diễn ra vào ngày hôm sau, Lọ Lem vẫn được tham dự với sự giúp đỡ của bà tiên. Hoàng tử bắt đầu say mê cô và không thể rời mắt khỏi Lọ Lem, Lọ Lem cũng dần say mê chàng và quên cả thời gian, và cô chỉ nhận ra khi nửa đêm đã đến. Cô vội vã rời khỏi cung điện và vô tình đánh rời một chiếc hài thuỷ tinh trên bậc thềm. Hoàng tử cố hết sức đuổi theo cô, nhưng đến khi đã ra khỏi cung điện, binh lính chỉ thấy một cô gái nông dân tầm thường quần áo rách rưới. Hoàng tử nhặt chiếc hài thủy tinh mà cô bỏ lại ở cung điện và tự hứa với mình sẽ tìm cho bằng được và kết hôn với cô gái là chủ nhân của chiếc hài thủy tinh này. Và kỳ lạ thay, Lọ lem vẫn giữ chiếc hài thủy tinh còn lại, mặc dù mọi thứ khác được tạo ra từ phép thuật của bà tiên đỡ đầu điều biến mất.
 +</​p><​p>​Hoàng tử cho tất cả phụ nữ trong vương quốc đi thử chiếc hài. Khi chàng đến nhà Lọ Lem, hai cô chị cố gắng nhét chân vào chiếc giày nhưng không thể nhét vừa. Khi Lọ Lem tỏ ý muốn đi thử, hai cô chị ra sức chế giễu, nhưng chiếc hài lại vừa như in. Lọ Lem liền đưa chiếc còn lại ra làm chứng. Lúc này, hai cô chị mới ăn năn hối lỗi, van xin Lọ Lem tha thứ cho những hành động độc ác trước đây của mình. Cô đồng ý. Cuối cùng, Lọ Lem cưới hoàng tử, và hai cô chị cũng cưới được chồng có quyền cao chức trọng.
 +</​p><​p>​Bài học đầu tiên của câu chuyện là "tốt gỗ hơn tốt nước sơn" - sắc đẹp rất quan trọng nhưng vẻ đẹp tâm hồn mới là vô giá.<​sup id="​cite_ref-pitt.edu_11-0"​ class="​reference">​[11]</​sup></​p><​p>​Tuy nhiên, bài học thứ hai của câu chuyện lại đối nghịch hoàn toàn với bài học thứ nhất, thể hiện cái nhìn châm biếm của Perrault: "Một bài học khác: Có trí thông minh, lòng can đảm, dòng tộc danh giá và kinh nghiệm sống cũng giúp ích rất nhiều. Những điều này, và nhiều điều khác chỉ đến từ thiên đàng. Nhưng ngay cả chúng cũng có thể không đem lại thành công cho bạn nếu không được một ông tiên hay bà tiên phù hộ."<​sup id="​cite_ref-pitt.edu_11-1"​ class="​reference">​[11]</​sup></​p>​
 +
 +<​p>​Câu chuyện và những dị bản đã trở thành đề tài nghiên cứu từ khá lâu.<​sup id="​cite_ref-fits_12-0"​ class="​reference">​[12]</​sup>​ Năm 1893, Marian Roalfe Cox xuất bản sách <​i>​Cinderella:​ Three Hundred and Forty-Five Variants of Cinderella, Catskin and, Cap o'​Rushes,​ Abstracted and Tabulated with a Discussion of Medieval Analogues and Notes.</​i><​sup id="​cite_ref-fits_12-1"​ class="​reference">​[12]</​sup></​p><​p><​i>​Cinderella</​i>​ được xếp vào loại 510A (nhân vật nữ bị đối xử bất công) trong hệ thống phân loại Aarne-Thompson. Một số truyện tiêu biểu thuộc loại này là <​i>​Tấm Cám</​i>,​ <​i>​Rushen Coatie</​i>,​ <​i>​Fair,​ Brown and Trembling</​i>​ và <​i>​Katie Woodencloak</​i>​.<​sup id="​cite_ref-13"​ class="​reference">​[13]</​sup></​p>​
 +
 +
 +<div class="​thumb tright"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​222px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​d/​db/​%C3%89mile_Bertrand_-_Jules_Massenet_-_Cendrillon_poster.jpg/​220px-%C3%89mile_Bertrand_-_Jules_Massenet_-_Cendrillon_poster.jpg"​ width="​220"​ height="​293"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​d/​db/​%C3%89mile_Bertrand_-_Jules_Massenet_-_Cendrillon_poster.jpg/​330px-%C3%89mile_Bertrand_-_Jules_Massenet_-_Cendrillon_poster.jpg 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​d/​db/​%C3%89mile_Bertrand_-_Jules_Massenet_-_Cendrillon_poster.jpg/​440px-%C3%89mile_Bertrand_-_Jules_Massenet_-_Cendrillon_poster.jpg 2x" data-file-width="​3261"​ data-file-height="​4339"/> ​ </​div></​div>​
 +<​p>​Câu chuyện về cô bé Lọ lem đã được chuyển thể thành nhiều tác phẩm nghệ thuật đáng chú ý. Sớm nhất là các vở opera và ballet tại Pháp và Ý. Truyện được dựng thành kịch lần đầu vào năm 1904 tại nhà hát Drury Lane, London.
 +</​p><​p>​Qua nhiều thập kỉ, có hàng trăm phim đã được xây dựng dựa trên cốt truyện của Lọ Lem. Trong số đó, phim đầu điên về Lọ lem được sản xuất tại Pháp bởi Georges Méliès. Các phim câm về Lọ Lem cũng được sản xuất vào năm 1911 (với Florence La Badie trong vai Lọ Lem) và 1914 (với Mary Pickford). Walt Disney đã sản xuất một bộ phim hoạt hình ngắn (7 phút) về Lọ Lem năm 1922; và sau này là phim hoạt hình dài năm 1950 <​i>​Cô bé Lọ Lem</​i>,​ được biết đến rộng rãi nhất trong số các phim chuyển thể từ tác phẩm này. Sau đó, hãng còn tiếp tục sản xuất các bộ phim <​i>​Cinderella II: Dreams Come True</​i>,​ <​i>​Cinderella III: A Twist in Time</​i>,​ kể về những việc xảy ra sau khi Lọ Lem cưới hoàng tử. Nhân vật Lọ Lem là một trong các công chúa Disney. Nhiều bộ phim khác lại đưa câu chuyện của Lọ Lem đến thế giới hiện đại như <i>A Cinderella Story</​i>​ (200, <​i>​Ella Enchanted</​i>​ (2004), <​i>​Cinderella</​i>​ (2015).
 +</​p><​p>​Nổi tiếng nhất trong số các bài hát về Lọ Lem là <​i>​Cinderella Stay Awhile </​i>​của Michael Jackson trong album <​i>​Forever,​ Michael</​i>​ và <​i>​Cinderella</​i>​ trong album <​i>​Britney</​i>​ của ca sĩ Britney Spears. Nhóm nhạc The Cheetah Girls cũng có bài hát <​i>​Cinderella</​i>​ năm 2003 nói về Lọ Lem.
 +</p>
 +
 +
 +
 +
 +<div class="​reflist columns references-column-count references-column-count-2"​ style="​-moz-column-count:​ 2; -webkit-column-count:​ 2; column-count:​ 2; list-style-type:​ decimal;">​
 +<ol class="​references"><​li id="​cite_note-1"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text"><​span class="​citation book">​Zipes,​ Jack (2001). <​i>​The Great Fairy Tale Tradition: From Straparola and Basile to the Brothers Grimm</​i>​. W. W. Norton &amp; Co. tr. 444. ISBN 978-0393976366.</​span><​span title="​ctx_ver=Z39.88-2004&​amp;​rfr_id=info%3Asid%2Fvi.wikipedia.org%3AC%C3%B4+b%C3%A9+L%E1%BB%8D+Lem&​amp;​rft.au=Zipes%2C+Jack&​amp;​rft.aufirst=Jack&​amp;​rft.aulast=Zipes&​amp;​rft.btitle=The+Great+Fairy+Tale+Tradition%3A+From+Straparola+and+Basile+to+the+Brothers+Grimm&​amp;​rft.date=2001&​amp;​rft.genre=book&​amp;​rft.isbn=978-0393976366&​amp;​rft.pages=444&​amp;​rft.pub=W.+W.+Norton+%26+Co&​amp;​rft_val_fmt=info%3Aofi%2Ffmt%3Akev%3Amtx%3Abook"​ class="​Z3988"><​span style="​display:​none;">​ </​span></​span></​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-2"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Bottigheimer,​ Ruth. (2008). "​Before <​i>​Contes du temps passe</​i>​ (1697): Charles Perrault'​s <​i>​Griselidis</​i>,​ <​i>​Souhaits</​i>​ and <​i>​Peau</​i>"​. <​i>​The Romantic Review</​i>,​ Volume 99, Number 3. pp. 175-189</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-3"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text"><​span class="​citation web">​Strabo (23). “Strabo'​s account of Rhodopis”. <​i>​The Geography</​i><​span class="​reference-accessdate">​. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2010</​span>​.</​span><​span title="​ctx_ver=Z39.88-2004&​amp;​rfr_id=info%3Asid%2Fvi.wikipedia.org%3AC%C3%B4+b%C3%A9+L%E1%BB%8D+Lem&​amp;​rft.atitle=Strabo%27s+account+of+Rhodopis&​amp;​rft.au=Strabo&​amp;​rft.aulast=Strabo&​amp;​rft.date=25+th%C3%A1ng+3+n%C4%83m+2010&​amp;​rft.genre=article&​amp;​rft.jtitle=The+Geography&​amp;​rft_id=http%3A%2F%2Fpenelope.uchicago.edu%2FThayer%2FE%2FRoman%2FTexts%2FStrabo%2F17A3%2A.html%23ref178&​amp;​rft_val_fmt=info%3Aofi%2Ffmt%3Akev%3Amtx%3Ajournal"​ class="​Z3988"><​span style="​display:​none;">​ </​span></​span>​ </​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-4"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">"​The Egyptian Cinderella",​ một câu chuyện được kể lại.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-5"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text"><​span class="​citation book">​Anderson,​ Graham (2000). <​i>​Fairytale in the ancient world</​i>​. Routledge. tr. 27. ISBN 978-0-415-23702-4<​span class="​reference-accessdate">​. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2010</​span>​.</​span><​span title="​ctx_ver=Z39.88-2004&​amp;​rfr_id=info%3Asid%2Fvi.wikipedia.org%3AC%C3%B4+b%C3%A9+L%E1%BB%8D+Lem&​amp;​rft.au=Anderson%2C+Graham&​amp;​rft.aufirst=Graham&​amp;​rft.aulast=Anderson&​amp;​rft.btitle=Fairytale+in+the+ancient+world&​amp;​rft.date=25+th%C3%A1ng+3+n%C4%83m+2010&​amp;​rft.genre=book&​amp;​rft.isbn=978-0-415-23702-4&​amp;​rft.pages=27&​amp;​rft.pub=Routledge&​amp;​rft_id=http%3A%2F%2Fbooks.google.com%2Fid%3DB2DAAlUrbBIC%26pg%3DPA27%26dq%3DFairytale%2Bin%2Bthe%2Bancient%2Bworld%2Brhodopis%26cd%3D1%23v%3Donepage%26q%3DFairytale%2520in%2520the%2520ancient%2520world%2520rhodopis&​amp;​rft_val_fmt=info%3Aofi%2Ffmt%3Akev%3Amtx%3Abook"​ class="​Z3988"><​span style="​display:​none;">​ </​span></​span></​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-6"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text"><​span class="​citation book">​Herodotus. <​i>​The Histories</​i><​span class="​reference-accessdate">​. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2010</​span>​.</​span><​span title="​ctx_ver=Z39.88-2004&​amp;​rfr_id=info%3Asid%2Fvi.wikipedia.org%3AC%C3%B4+b%C3%A9+L%E1%BB%8D+Lem&​amp;​rft.au=Herodotus&​amp;​rft.aulast=Herodotus&​amp;​rft.btitle=The+Histories&​amp;​rft.date=25+th%C3%A1ng+3+n%C4%83m+2010&​amp;​rft.genre=book&​amp;​rft_id=http%3A%2F%2Fwww.perseus.tufts.edu%2Fhopper%2Fsearchresults%3Ftarget%3Den%26inContent%3Dtrue%26q%3DRhodopis%26doc%3DPerseus%253Atext%253A1999.01.0126&​amp;​rft_val_fmt=info%3Aofi%2Ffmt%3Akev%3Amtx%3Abook"​ class="​Z3988"><​span style="​display:​none;">​ </​span></​span>,​ book 2, chapters 134 and 135.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-7"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Aelian,​ "​Various History",​ 13.33</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-8"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text"><​span class="​citation book">​Ulrich Marzolph, Richard van Leeuwen, Hassan Wassouf (2004). <​i>​The Arabian Nights Encyclopedia</​i>​. ABC-CLIO. tr. 4. ISBN 1-57607-204-5.</​span><​span title="​ctx_ver=Z39.88-2004&​amp;​rfr_id=info%3Asid%2Fvi.wikipedia.org%3AC%C3%B4+b%C3%A9+L%E1%BB%8D+Lem&​amp;​rft.au=Ulrich+Marzolph%2C+Richard+van+Leeuwen%2C+Hassan+Wassouf&​amp;​rft.aufirst=Hassan+Wassouf&​amp;​rft.aulast=Ulrich+Marzolph%2C+Richard+van+Leeuwen&​amp;​rft.btitle=The+Arabian+Nights+Encyclopedia&​amp;​rft.date=2004&​amp;​rft.genre=book&​amp;​rft.isbn=1-57607-204-5&​amp;​rft.pages=4&​amp;​rft.pub=ABC-CLIO&​amp;​rft_val_fmt=info%3Aofi%2Ffmt%3Akev%3Amtx%3Abook"​ class="​Z3988"><​span style="​display:​none;">​ </​span></​span></​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-9"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​http://​www.surlalunefairytales.com/​pentamerone/​6cenerentola1911.html</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-10"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​An modern edition of the original French text by Perrault is found in Charles Perrault, <​i>​Contes</​i>,​ ed. Marc Soriano (Paris: Flammarion, 1989), pp. 274-79.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-pitt.edu-11">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Perrault:​ Cinderella; or, The Little Glass Slipper</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-fits-12">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">"​If The Shoe Fits: Folklorists'​ criteria for #​510"</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-13"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Heidi Anne Heiner, "Tales Similar to Cinderella"</​span>​
 +</li>
 +</​ol></​div>​
 +
 +<table role="​presentation"​ class="​mbox-small plainlinks sistersitebox"​ style="​background-color:#​f9f9f9;​border:​1px solid #​aaa;​color:#​000"><​tbody><​tr><​td class="​mbox-image"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​4/​4a/​Commons-logo.svg/​30px-Commons-logo.svg.png"​ width="​30"​ height="​40"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​4/​4a/​Commons-logo.svg/​45px-Commons-logo.svg.png 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​4/​4a/​Commons-logo.svg/​59px-Commons-logo.svg.png 2x" data-file-width="​1024"​ data-file-height="​1376"/></​td>​
 +<td class="​mbox-text plainlist">​Wikimedia Commons có thư viện hình ảnh và phương tiện truyền tải về <​i><​b><​span>​Cô bé Lọ Lem</​span></​b></​i></​td></​tr></​tbody></​table><​!-- ​
 +NewPP limit report
 +Parsed by mw1324
 +Cached time: 20181014120207
 +Cache expiry: 1900800
 +Dynamic content: false
 +CPU time usage: 0.332 seconds
 +Real time usage: 0.397 seconds
 +Preprocessor visited node count: 874/1000000
 +Preprocessor generated node count: 0/1500000
 +Post&#​8208;​expand include size: 19939/​2097152 bytes
 +Template argument size: 1704/​2097152 bytes
 +Highest expansion depth: 8/40
 +Expensive parser function count: 0/500
 +Unstrip recursion depth: 0/20
 +Unstrip post&#​8208;​expand size: 9132/​5000000 bytes
 +Number of Wikibase entities loaded: 0/400
 +Lua time usage: 0.165/​10.000 seconds
 +Lua memory usage: 10.19 MB/50 MB
 +--><​!--
 +Transclusion expansion time report (%,​ms,​calls,​template)
 +100.00% ​ 289.394 ​     1 -total
 + ​50.31% ​ 145.592 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Lang
 + ​18.62% ​  ​53.890 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Tham_kh&#​7843;​o
 + ​15.38% ​  ​44.500 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Infobox_folk_tale
 + ​14.31% ​  ​41.418 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Infobox
 + ​11.16% ​  ​32.288 ​     4 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Ch&​uacute;​_th&​iacute;​ch_s&​aacute;​ch
 +  4.99%   ​14.440 ​     3 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​D&#​7921;​_&​aacute;​n_li&​ecirc;​n_quan
 +  4.08%   ​11.798 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Th&#​7875;​_lo&#​7841;​i_Commons
 +  4.01%   ​11.600 ​     3 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​H&#​7897;​p_b&​ecirc;​n
 +  2.50%    7.231      1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Cquote
 +--><​!-- Saved in parser cache with key viwiki:​pcache:​idhash:​1263720-0!canonical and timestamp 20181014120206 and revision id 41210591
 + ​--></​div>​
 +
 +</​HTML>​
2351-c-b-l-lem-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:11 (external edit)